InvestyNGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM - Investy

NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM


Project Description

LĨNH VỰC KINH DOANH

  • Huy động vốn;
  • Tín dụng;
  • Liên kết và đầu tư tài chính;
  • Kinh doanh ngoại hối;
  • Cung cấp các dịch vụ tài chính tiền gửi, thẻ, bảo lãnh, thanh toán quốc tế, ngân hàng internet, tài chính tiêu dùng;
  • Cung cấp dịch vụ tư vấn doanh nghiệp và quản lý tài sản;

VỊ THẾ CÔNG TY

  • Tính đến ngày 31/03/2018, mạng lưới phân phối của Techcombank là mạng lưới lớn thứ ba trong khối ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam với 01 hội sở, 02 văn phòng đại diện và 315 điểm giao dịch trên cả nước, chỉ sau Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng TMCP Á Châu. Techcombank đang dẫn đầu trong nhóm các ngân hàng TMCP về số lượng máy ATM với 1.117 chiếc. Bên cạnh đó, Techcombank đã triển khai được mạng lưới POS với số lượng 1.996 máy.
  • Tính đến ngày 31/12/2017, vốn quy mô vốn sở hữu đạt 37.615 tỷ đồng, Techcombank đứng thứ 7 trong số các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết/đăng ký giao dịch tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Trong năm 2017, tỷ suất Lợi nhuận sau thuế trên Vốn chủ sở hữu bình quân tăng mạnh và đạt 27,7% – cao nhất trong số các ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam.
  • Theo công bố của tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investors Service vào ngày 04/04/2018, Techcombank được Moody’s đánh giá xếp hạng triển vọng ổn định, B1 ở hạng mục xếp hạng năng lực độc lập, B1 ở hạng mục tiền gửi và B1 ở hạng mục đơn vị phát hành dài hạn. Theo đó, mức xếp hạng tín nhiệm này của Techcombank là cao nhất trong 16 ngân hàng được Moody’s xếp hạng tại Việt Nam, và ngang bằng với mức trần xếp hạng quốc gia của Việt Nam.

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

  • Áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại trong các dịch vụ ngân hàng, trung tâm dữ liệu và các dịch vụ tích hợp hệ thống để tiếp tục là ngân hàng dẫn dầu về công nghệ;
  • Tiếp tục thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược với các đối tác khác là những tập đoàn lớn nhằm củng cố và mở rộng hệ sinh thái khách hàng;
  • Tập trung khai thác hệ sinh thái khách hàng trong chuỗi giá trị và các khách hàng lớn hiện tại nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh so với các ngân hàng khác trong ngành;
  • Xây dựng và phát triển các kênh phân phối mới, đặc biệt là ngân hàng điện tử (digital banking), tối ưu hóa mô hình bán hàng để nâng cao hiệu quả bán hàng cho khách hàng trong hệ sinh thái và tăng cường bán chéo, bán thêm cho khách hàng;

TRIỂN VỌNG

  • Việt Nam đang thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn 2016-2020 trong bối cảnh gia nhập Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC), tham gia Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA) với Liên minh Á-Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản. Sự hội nhập sâu rộng mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế Việt Nam cũng như tăng trưởng các hoạt động cho vay của toàn hệ thống. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục triển khai các giải pháp tái cơ cấu ngành ngân hàng gắn liền với xử lý nợ xấu trong giai đoạn 2016-2020.
  • Sự phát triển của ngành ngân hàng được hỗ trợ bởi các chỉ số kinh tế vĩ mô tích cực tại Việt Nam, với dân số trẻ chuyển dịch dần từ hoạt động nông nghiệp sang làm việc tại các ngành sản xuất và dịch vụ, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, tăng trưởng tầng lớp trung lưu, thu nhập và chi tiêu tăng nhanh và thu nhập khả dụng cũng có xu hướng đi lên. Số lượng người có tài khoản ngân hàng cũng tăng lên nhanh chóng, tương tự số lượng thẻ ngân hàng do các ngân hàng phát hành và số lượng giao dịch phi tiền mặt thông qua ATM và POS cũng tăng cao.
  • Ngành ngân hàng được hưởng lợi từ tỷ lệ truy cập internet cao và tỷ lệ sở hữu điện thoại thông minh cao tại Việt Nam. Bằng việc áp dụng các giải pháp công nghệ trong hoạt động, các ngân hàng đang ngày càng tiếp cận nhanh chóng tới nhóm dân số chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp hơn so với việc thành lập và mở các chi nhánh ngân hàng tại các vùng sâu vùng xa.

RỦI RO

  • Thông tư 36/2014/TT-NHNN cũng gây ra một số khó khăn đối với hệ thống ngân hàng, giới hạn cấp tín dụng bị thu hẹp, giới hạn đầu tư trái phiếu chính phủ, tỷ lệ vệ khả năng chi trả, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải cấu trúc lại các danh mục tài sản có cũng như tài sản nợ để tuân thủ theo quy định. Việc tái cấu trúc này ảnh hưởng đến kết quả cũng như chiến lược kinh doanh của các ngân hàng. Ngoài ra, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc xử lý dứt điểm nợ xấu tồn đọng khi vẫn còn thiếu các nguồn tài chính thực từ bên ngoài trong khi khuôn khổ pháp lý cho mua bán nợ xấu còn nhiều bất cập.