InvestyTỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM - Investy

TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM

TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM


Project Description

TỔNG QUAN

  • Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) được thành lập vào năm 2007 theo Quyết định 1468/QĐ-DKVN của Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Tổng Công ty hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất, truyền tải, kinh doanh, xuất nhập khẩu điện năng. Tổng Công ty chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ tháng 07/2018. PV Power đang quản lý vận hành 8 Nhà máy điện với tổng công suất lắp đặt là 4208,2 MW, gồm điện khí, than và thủy điện. Hàng năm PV Power cung cấp lên lưới điện Quốc gia khoảng 21 tỷ Kwh, chiếm 13-15% sản lượng điện thương phẩm Quốc gia, đứng vị trí thứ 2 sau Tập đoàn Điện lực Việt Nam. PV Power được giao dịch trên thị trường UPCOM từ tháng 03/2018.

LĨNH VỰC KINH DOANH

  • Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng;
  • Chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, and phân phối điện năng trong hệ thống điện quốc gia;
  • Xuất nhập khẩu điện năng;
  • Đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện trực thuộc;
  • Quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, nâng cấp thiết bị điện, cơ khí, điều khiển, tự động hóa thuộc dây truyền sản xuất, truyền tải và phân phối điện, công trình điện;

VỊ THẾ CÔNG TY

  • PV Power đang quản lý vận hành 08 Nhà máy điện với tổng công suất lắp đặt là 4.208,2 MW, gồm điện khí, than và thủy điện. Hàng năm, PV Power cung cấp lên lưới điện Quốc gia khoảng 21 tỷ Kwh, chiếm 13-15% sản lượng điện thương phẩm Quốc gia, đứng vị trí thứ 2 sau Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Tất cả các nhà máy điện của PV Power đều sử dụng công nghệ tiên tiến và máy móc thiết bị từ các nhà cung cấp hàng đầu thế giới như Siemens, GE/Alstom, Toshiba…
  • Với 64% công suất của PV Power là từ các nhà máy điện khí, có suất đầu tư thấp hơn nhiệt điện than nên PV Power có suất đầu tư bình quân thấp nhất trong 05 tổng công ty phát điện bao gồm Genco 1, Genco 2, Genco 3 và TKV Power.
  • Các dự án điện khí của PV Power đã khấu hao gần xong, thời gian thu hồi vốn nhanh, giúp PV Power chi trả bớt lãi vay và giảm áp lực tài chính trong các năm tiếp theo.

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

  • Đóng góp tích cực vào sứ mệnh đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần phát triển kinh tế đất nước và ngành công nghiệp điện;
  • Đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị và ứng dụng công nghệ tiên tiến để giảm thất thoát năng lượng;
  • Tăng cường hợp tác với các đối tác có năng lực trong việc sản xuất cung ứng thiết bị, dịch vụ sửa chữa bảo trì cho các nhà máy điện và mạng lưới điện cũng như trong công tác nghiên cứu phát triển các công nghệ mới;

TRIỂN VỌNG

  • Ngành điện hiện nay vẫn đang là ngành có nhu cầu lớn hơn khả năng sản xuất trong nước.Tốc độ tăng trưởng điện phụ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng GDP được dự báo ở mức 6,7-7%/năm thì nhu cầu tiêu thụ điện nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng mạnh ở mức  11,5%. Đặc biệt trong giai đoạn này, GDP tăng trưởng chủ yếu nhờ vào sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, trong khi lĩnh vực này chiếm tỷ trọng trên 50% tổng mức tiêu thụ điện năng của cả nước. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ điện hộ gia đình cũng sẽ gia tăng, một mặt nhờ đà phục hồi của nền kinh tế. Hơn nữa, mạng lưới truyền tải điện được nâng cấp và mở rộng, với tỷ trọng chiếm khoảng trên 40%.

RỦI RO

  • Rủi ro tiến độ thực hiện dự án: Vì các công trình về sản xuất điện thường là các công trình lớn chiếm diện tích khá lớn, số vốn đầu tư lại rất lớn. Do vậy, chủ đầu tư sẽ gặp rủi ro nếu việc tiến độ thi công chậm chạp, thời gian đi vào hoạt động kéo dài sẽ khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thu hồi vốn đầu tư đặc biệt là khi các dự án sử dụng vốn vay ngân hàng.
  • Rủi ro tỷ giá: Nhiều dự án sản xuất điện được tài trợ vốn bằng ngoại tệ. Do vậy, việc biến động của ngoại tệ so với Việt Nam đồng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động của dự án này.
  • Rủi ro lãi suất: Các dự án về điện thường đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư rất lớn, đặc biệt là các dự án thủy điện. Đây lại là ngành kinh tế trọng điểm nên các dự án được hưởng những chính sách ưu đãi về vốn vay. Vì vậy tỷ trọng vốn vay trong tổng nguồn vốn thường ở mức cao. Cơ cấu vốn khi đầu tư các dự án thường là vốn vay 70%, còn lại 30% là vốn tự có. Với cơ cấu vốn như thế, sự dao động lãi suất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các dự án.